Lợi nhuận bình quân là gì? Công thức tính lợi nhuận bình quân

Đăng bởi : Mytrade | Lượt xem: 85

Lợi nhuận bình quân đang là một trong những chỉ số mà doanh nghiệp sử dụng để đo lường trên mỗi đơn vị được sản xuất và bán ra bên ngoài thị trường. Vậy lợi nhuận bình quân là gì? nó có vai trò và cách tính như thế nào. Cùng Mytrade tìm hiểu chi tiết tại bài viết này nhé!

Lợi nhuận bình quân là gì?

Lợi nhuận bình quân là gì?

Lợi nhuận bình quân là gì?

Lợi nhuận bình quân được (Average Profit) cho thấy chỉ số mà những nhà đầu tư quan tâm theo dõi ở trong suốt quá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm. Chỉ số này thể hiện được mức độ cạnh tranh và phát triển của những doanh nghiệp khác nhau.

Hiểu đơn giản thì chỉ số này chính là tổng lợi nhuận của sản phẩm hay dịch vụ cho cho sản lượng tổng lợi nhuận được tính tại mỗi thời kỳ. Nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể xác định được tỷ suất lợi nhuận khi đạt được trên mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất hoặc bán ra ngoài thị trường. Lợi nhuận bình quân này được xem là phần lợi nhuận thông thường khi phần lợi nhuận kinh tế bao gồm chi phí bằng 0.

Vai trò của phần lợi nhuận bình quân

Vai trò của phần lợi nhuận bình quân

Vai trò của phần lợi nhuận bình quân

Lợi nhuận bình quân sẽ giúp ích cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp cụ thể như sau:

Dễ dàng đưa ra được lựa chọn ở trong quá trình đầu tư hoặc phát triển doanh nghiệp

Không chỉ những nhà đầu tư mà các doanh nghiệp lớn khi nắm bắt được đầy đủ các số liệu không chỉ phần lợi nhuận bình quân thì họ có thể dễ dàng đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất và phù hợp với nhu cầu phát triển. Chỉ số lợi nhuận bình quân có thể giúp ích rất nhiều trong từng bước đi, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn.

Từ chỉ số lợi nhuận bình quân thì các nhà đầu tư có thể xem xét được sản phẩm hay dịch vụ này có khả năng sinh lời như thế nào và họ cũng sẽ đưa ra quyết định đầu tư hay chuyển sang một sản phẩm/ dịch vụ khác.

Ví dụ: một doanh nghiệp A chuyên kinh doanh những sản phẩm bột giặt tại Hà Nội. Doanh nghiệp A này đang muốn xem xét sản phẩm bột giặt này có thể đạt được bao nhiêu phần lợi nhuận so với địa điểm khác, họ đã bắt đầu dựa vào thống kê chỉ số lợi nhuận bình quân.

  • Nếu như lợi nhuận bình quân của sản phẩm đạt ở mức cao tại Hà Nội thì doanh nghiệp chắc chắn sẽ quyết định tiếp tục duy trì hoạt động cung cấp sản phẩm.
  • Nếu như lợi nhuận bình quân của sản phẩm ở mức thấp tại Hà Nội thì đương nhiên doanh nghiệp sẽ cân nhắc về việc loại bỏ hay thay đổi sản phẩm.

Đánh giá về mức độ hiệu quả

Ngoài việc giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư đưa ra được sự lựa chọn dễ dàng thì lợi nhuận bình quân cũng giúp đánh giá mức độ hoạt động hiệu quả của một doanh nghiệp trong những giai đoạn khủng hoảng, khó khăn và cả trong giai đoạn phát triển.

Trong một số trường hợp, khi mà doanh nghiệp cảm thấy chỉ số lợi nhuận bình quân đã không còn đảm bảo nữa thì họ sẽ đưa ra một quyết định ngừng sản xuất sản phẩm hay ngừng cung cấp dịch vụ và thay đổi về chiến lược kinh doanh chuyển sang một hướng mới, đảm bảo an toàn và hiệu quả hơn.

Ví dụ: Một công ty dịch vụ truyền thông A có hoạt động kinh doanh tốt hơn so với những công ty ở cùng lĩnh vực trong những giai đoạn kể cả giai đoạn thị trường gặp khó khăn.

Với các công ty còn lại thì hoạt động kinh doanh cùng mức lợi nhuận bình quân sẽ không đảm bảo ổn định, có thể nhà điều hành sẽ quyết định ngừng sản xuất, cung cấp và xem xét thay đổi sản phẩm cũng như về cách quản lý để chuyển hướng tình hình kinh doanh được tích cực hơn.

Hỗ trợ hoạt động thu mua

Xem xét việc thu mua doanh nghiệp dựa theo chỉ số lợi nhuận bình quân cũng giúp cho các nhà đầu tư biết được khả năng phát triển tiềm năng trong doanh nghiệp đó. Không chỉ xem xét ở mức độ lợi nhuận mà bạn cũng nên xem xét về tài sản doanh nghiệp đang quản lý, những yếu tố tác động tiêu cực hay tích cực đều góp phần trong sự phát triển hiện tại của doanh nghiệp.

Đương nhiên, khi mà một doanh nghiệp có chỉ số lợi nhuận cao và hoạt động kinh doanh hiệu quả thì việc hoàn tất giao dịch mua bán hay sáp nhập sẽ giúp cho các nhà đầu tư thu về được một khoản lợi nhuận đáng kể.

Cách để xác định lợi nhuận bình quân

Cách để xác định lợi nhuận bình quân

Cách để xác định lợi nhuận bình quân

Trước khi áp dụng công thức tính lợi nhuận bình quân thì bạn nên tìm hiểu về cách xác định lợi nhuận bình quân như sau:

  • Đánh giá hiệu quả làm việc của những doanh nghiệp thông qua hoạt động tính toán lợi nhuận bình quân của mỗi bộ phận đang hoạt động.
  • Cách tính toán được phần tỷ suất lợi nhuận trung bình của một sản phẩm hay một doanh nghiệp đó chính là sử dụng cách tính lợi nhuận trung bình chia cho mức giá bán trung bình hay doanh thu trung bình.
  • Đối với lĩnh vực chứng khoán thì bạn có thể tính lợi nhuận bình quân những giao dịch ở trong vòng 1 tháng của một mã lệnh cổ phiếu cụ thể hay trên toàn bộ danh mục. Nhờ vào đó thì bạn có thể đánh giá được mức độ hiệu quả ở trong sự thay đổi của những hoạt động giao dịch.

Cách tính lợi nhuận bình quân

Sau khi bạn tìm hiểu khái niệm lợi nhuận bình quân là gì và cách xác định, vai trò thì hãy cùng xem công thức tính của chỉ số này như sau:

Lợi nhuận bình quân = Doanh thu bình quân – Phần chi phí bình quân

Trong đó

  • Doanh thu bình quân: Mức doanh thu này sẽ được tính bằng tổng doanh thu chia cho số lượng của đơn vị sản phẩm được bán ra ở trên thị trường tại một khoảng thời gian nhất định.
  • Chi phí bình quân: Mức chi phí sẽ được tính bằng tổng số chi phí phát sinh chia cho số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất. Thông thường thì số lượng hàng hóa được sản xuất sẽ bằng với số lượng hàng hóa được bán ra.

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là gì?

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là gì?

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là gì?

Theo Marx thì tỷ suất lợi nhuận bình quân chính là tỷ suất lợi nhuận xấp xỉ ngang nhau giữa những ngành khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ được tính theo công thức sau:

(p^’)=(∑m)/(∑(c+v)=(∑p)/(∑K)=(p1+p2+…+pn)/(K1+K2+… +Kn )=(K1p’1+K2p’2+… +Knp’n)/(K1+K2+… +Kn) =∑(i=1)^np’i wi

Trong đó:

  • pi: chính là lợi nhuận của ngành i
  • p’: phần tỷ suất lợi nhuận của ngành i
  • Ki: tư bản đầu tư của ngành i
  • n: số ngành ở trong nền kinh tế
  • K: Tổng tư bản đầu tư của toàn xã hội
  • Wi: tỷ trọng tư bản đầu tư vào ngành i trong tổng số tư bản đầu tư của xã hội

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là một tỷ suất sinh lợi chung của toàn bộ tư bản đầu tư vào trong nền kinh tế. Nó cũng là suất sinh lợi chung của toàn bộ nền kinh tế, là một con số trung bình của những tỷ suất lợi nhuận cá biệt trong mỗi ngành tương ứng với trọng số chính là tỷ trọng vốn đầu tư của ngành đó khi so với tổng vốn đầu tư của toàn xã hội.

Nguyên nhân hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân

Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Cạnh tranh chính là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất, người kinh doanh hàng hóa nhằm mục đích giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa trên thị trường để thu về lợi nhuận bình quân cao nhất.

  • Cạnh tranh ở trong nội bộ ngành và sự hình thành của giá trị thị trường

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp ở trong cùng một ngành, sản xuất cùng về một loại hàng hóa, nhằm mục đích giành ưu thế trong hoạt động sản xuất và trong tiêu thụ hàng hóa để thu được phần lợi nhuận siêu ngạch.

Cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ được thực hiện thông qua những biện pháp: cải tiến về kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng của hàng hóa, cải tiến mẫu mã… làm cho phần giá trị cá biệt của hàng hóa do xí nghiệp sản xuất ra sẽ thấp hơn giá trị xã hội để thu được phần lợi nhuận siêu ngạch.

Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ dẫn đến hình thành giá trị xã hội của hàng hóa, tức là phần giá trị thị trường của hàng hóa, làm cho điều kiện sản xuất trung bình của một ngành có sự thay đổi, giá trị xã hội của hàng hóa giảm xuống cùng với chất lượng hàng hóa được nâng cao, chủng loại hàng hóa cũng phong phú hơn…

  • Cạnh tranh giữa các ngành cùng với sự hình thành nên phần tỷ suất lợi nhuận bình quân 

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp tư bản kinh doanh trong những ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm được nơi đầu tư có lợi hơn.

Trong xã hội có nhiều ngành sản xuất khác nhau cùng với các điều kiện sản xuất không giống nhau, do vậy mà phần lợi nhuận thu được và tỷ suất lợi nhuận không giống nhau. Vì thế các nhà tư bản cần phải chọn ngành nào có được tỷ suất lợi nhuận cao nhất để đầu tư.

Ví dụ: Trong xã hội đang có 3 ngành sản xuất công nghiệp khác nhau: Cơ khí, dệt và da có tư bản đầu tư sẽ đều là 100 và tỷ suất giá trị thặng dư đều là 100% . Tư bản sẽ ứng trước chu chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Do tính chất kinh tế kỹ thuật mà mỗi ngành khác nhau nên cấu tạo hữu cơ của những xí nghiệp cũng có sự khác nhau. Nếu như lợi nhuận bằng với giá trị thặng dư thì tỷ suất giữa các ngành sẽ khác nhau (xem bảng).

Ngành sản xuất Chi phí sản xuất TBCN m (m’=100%) Giá trị hàng hóa P’ % p Giá cả sản xuất
Cơ khí 80c + 20v 20 120 20 30 130
Dệt 70c + 30v 30 130 30 30 130
Da 60c + 40v 40 140 40 30 130

Theo bảng trên thì ngành da có phần tỷ suất lợi nhuận cao nhất, do vậy tư bản các ngành khác sẽ có xu hướng chuyển sang ngành da làm cho quy mô sản xuất ngành này mở rộng. Khi đó sản phẩm da nhiều làm cho nguồn cung lớn hơn cầu, giá cả cũng sẽ hạ xuống. Ngược lại, quy mô sản xuất ở các ngành mà tư bản di chuyển đi cũng sẽ bị thu hẹp, nguồn cung nhỏ hơn cầu nên kéo theo giá cả tăng lên, do vậy mà tỷ suất lợi nhuận tăng. Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác để dành được lợi nhuận cao đã dẫn đến tỷ suất lợi nhuận ngang nhau, 30% là tỷ suất lợi nhuận mà mỗi ngành sẽ nhận được, đó gọi là tỷ suất lợi nhuận bình quân, kí hiệu p‘— .

Sự hình thành nên giá cả sản xuất 

Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi mà hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì phần giá trị hàng hóa chuyển hóa thành phần giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất chính là giá cả bằng chi phí sản xuất cộng với phần lợi nhuận bình quân.

Giá cả sản xuất = k + p’ 

Giá trị sẽ là cơ sở của giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất là một phạm trù kinh tế tương đương với phạm trù của giá cả. Nó cũng chính là cơ sở của giá cả ở trên thị trường. Giá cả sản xuất điều tiết giá cả ở trên thị trường, giá cả thị trường xoay quanh với giá cả  sản xuất. Khi mà giá trị hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất thì phần quy luật giá trị có hình thức sẽ biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.

Kết luận 

Lợi nhuận bình quân chính là tổng lợi nhuận chia cho sản lượng hay tổng lợi nhuận ở trong mỗi thời kỳ chia cho số thời kỳ. Đây là một cách giúp cho doanh nghiệp xác định được tỷ suất lợi nhuận đạt được ở trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất hoặc bán ra thị trường. Nó có thể được xem là phần lợi nhuận thông thường khi mà lợi nhuận kinh tế bao gồm phần chi phí cơ hội bằng 0. Bài viết trên Mytrade đã giải đáp thắc mắc lợi nhuận bình quân là gì cùng với những vai trò quan trọng khác. Hy vọng các nhà đầu tư có thể tính toán kỹ lưỡng phần lợi nhuận bình quân để đưa ra được những quyết định trong mỗi hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất. 

Nếu bạn cần tư vấn thêm hoặc muốn hỗ trợ tham gia giao dịch đầu tư trên thị trường chứng khoán thì hãy liên hệ ngay với Mytrade qua HOTLINE 1900966935 – 0983.668.883 để được giải đáp một cách nhanh nhất.

Mytrade – nền tảng giao dịch và đầu tư chứng khoán uy tín trên thị trường Việt Nam hiện nay

Hiện nay, nền tảng giao dịch và đầu tư chứng khoán Mytrade luôn luôn đồng hành cùng với Quý khách hàng ở trong suốt quá trình giao dịch trên thị trường chứng khoán nhằm giúp cho khách hàng phòng tránh được những rủi ro và mang lại hiệu quả đầu tư tối ưu nhất. Tải app MyTrade ngay hôm nay để có thể trải nghiệm được nền tảng đầu tư chứng khoán mới tại:

– Apple Store: https://apps.apple.com/us/app/mytrade-đầu-tư-cho-mọi-người/id1610468053

– Google Play: https://play.google.com/store/apps/details?id=vn.ftv.mytrade

Xem thêm: